Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Tôi bị ám ảnh bởi một Mai Châu (Hòa Bình) trong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng nên đó cũng chính là động lực để tôi đến, chiêm ngưỡng và ghi lại một số hình ảnh nơi đây. Ấn tượng mạnh nhất trong tôi đó là một thị trấn nhỏ, sạch sẽ, rất bình yên và hiền lành, có vẻ hơi lười nhác và uể oải như đang say trong giấc ngủ. Con người ở đây cũng hiền hậu và dễ mến như chính mảnh đất đã được biết tới rất nhiều trong thơ ca và phim ảnh này. Thật ngạc nhiên bởi đây là một trong những thị trấn du lịch được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm nhưng nó vẫn giữ được sự mộc mạc của một vùng quê với những nét rất riêng mà ít bị pha trộn như thường thấy ở những thị trấn hay thành phố du lịch khác. Một nét đặc biệt khác nữa là người dân làm du lịch rất chuyên nghiệp và không hề có hiện tượng chèo kéo khách mua hàng, không có cảnh từng bầy trẻ em bám đuôi xin tiền khách như ở Sapa hay một số nơi khác. Các em bé ở đây mặc dù không hề tỏ ra lạ lẫm với khách du lịch nhưng dường như cũng không quan tâm tới sự có mặt của du khách mà vẫn chạy nhảy nô đùa rất vô tư, tinh nghịch.



Một góc thị trấn Mai Châu nhìn từ trên cao.



Những mái nhà thấp lúp xúp núp sau những rặng cây xanh. Căn nhà cao nhất trong thị trấn
chỉ là một nhà nghỉ cao 4 tầng.



Hoa ban trắng của núi rừng Tây Bắc. Khi chuẩn bị vào thị trấn, nhìn từ xa đã thấy hoa ban nở trắng núi rừng nhưng trong các bản loài hoa này lại không được trồng nhiều lắm.



Bản Văn, một bản làng nằm ngay trong thị trấn. Đến đây tôi cảm thấy nhớ da diết quê tôi ở một vùng đồng bằng Bắc Bộ mặc dù những căn nhà ở đây là nhà sàn được làm bằng gỗ hoặc tre nứa chứ ít xây bằng gạch như ở dưới xuôi. Nhưng có lẽ phong cảnh làng quê nào cũng giống nhau, cũng bình yên và giản dị đến nao lòng như thế.



Hang Mỏ Luông (hay còn gọi là hang Bộ đội) cũng nằm ngay trong thị trấn. Lúc tôi đến đang có đoàn làm phim "Cảnh sát hình sự" mượn hang làm bối cảnh quay cho phim nên tôi cứ thả sức leo trèo mà chẳng ai hỏi han và cũng chẳng phải mua vé vào nữa.



Bản Lác, một bản rất nổi tiếng trong giới du lịch vì hình thức homestay, mỗi nhà sàn trong bản cũng đồng thời là một nhà nghỉ và một cửa hàng bán đồ thổ cẩm và quà lưu niệm do chính tay các bà các chị làm ra. Một điều tôi đặc biệt yêu thích là mọi thứ ở đây từ con người cho đến phong cảnh đều rất bình tĩnh và hiền hòa, không có cảm giác xô bồ của một vùng đất du lịch.



Tôi gặp loài hoa phong lan này ở khắp nơi. Nó cứ sống tự nhiên trên các thân cây gỗ và ra hoa đẹp lộng lẫy như thế này. Đây là một chùm hoa chụp trong bản Lác.



Biểu diễn văn nghệ ở bản Lác. Ở các nhà có đông khách đến ăn nghỉ, buổi tối chủ nhà thường mời một đoàn văn nghệ đến biểu diễn, giao lưu văn nghệ và uống rượu cần cùng du khách.



Tôi rất thích bộ trang phục của người Dao này, trông gọn gàng khỏe khoắn. Tiết mục cuối cùng thường là múa sạp rồi đến màn nắm tay nhau nhảy múa quanh chóe rượu cần. Màn múa sạp là tiết mục tôi thường chẳng bao giờ bỏ qua nên dù chỉ là khách tình cờ ghé qua nhưng tôi cũng nhảy rất chi là nhiệt tình
.



Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi... Một khúc sông Mã mùa cạn nước. Cũng bởi những vần thơ quá xúc cảm mà tôi phải lặn lội đến tận nơi để rồi hơi chút thất vọng vì không thấy nét nào lãng mạn, thơ mộng như trong thơ văn mà chỉ thấy một thực tại là ngay bên bờ sông có vô số những cơ sở sản xuất đũa tre và khai thác cát từ lòng sông. Tre được ngâm dưới dòng sông Mã rồi mới vớt lên làm đũa nên có một mùi đặc trưng khó tả khiến tôi không thể dừng chân ở đó lâu.



Và đây là sản phẩm đũa tre của Hòa Bình.



Tôi yêu những căn nhà bên đường như thế này. Bình dị và yên tĩnh đến khó tả.



Một bà già chăn bò tôi gặp trên đường đi.



Trẻ em vùng này cũng không có gì khác với trẻ em dưới xuôi, từ con người đến cách ăn mặc. Trong khi người lớn nói tiếng dân tộc với nhau thì trẻ em hầu như chỉ nói tiếng Việt.



Tạo dáng bên dậu tre
. Có một điều tôi không hài lòng lắm là dịch vụ ăn uống ở đây không được tốt, nghĩa là không có gì sẵn cả. Thị trấn có rất ít hàng quán nếu không muốn nói là chỉ có duy nhất một nhà hàng mà đồ ăn cũng không đặc sắc cho lắm. Thường những du khách ở homestay hay ở những nơi khác muốn ăn trưa ăn tối đều phải đặt trước chủ nhà, nếu không có thể sẽ chẳng có gì để ăn cả
. Đặc sản ở đây là món cơm lam nấu trong ống nứa, măng rừng, thịt lợn rừng, thịt gà ri và cá nướng sông Mã. Nghe nói cá nướng ngon mà tôi cũng
chưa nếm thử
.

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

Không thể thành người

Hồi nhỏ tôi rất thích đọc Azit Nexin, nhà văn châm biếm của Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng một thời. Trong số các truyện của ông tôi nhớ một truyện có tiêu đề "Không thể thành người" mà tôi rất thích. Hồi đi học bọn tôi cũng hay trêu nhau nói câu đó mỗi khi gặp chuyện gì đó hoặc gặp ai đó khiến mình không hài lòng. Mặc dù tôi là người ít khi không hài lòng với cuộc sống nhưng cũng có một số chuyện diễn ra hàng ngày khiến tôi không thể hài lòng. Các bạn cứ đọc những chuyện sau đây sẽ rõ.

Câu chuyện thứ nhất

Một buổi sáng nào đó chưa lâu lắm, tôi bước vào một hiệu thuốc trên phố Hàng Gai. Hiệu thuốc này lớn, của nhà nước lại nằm ngay góc ngã tư nên rất thuận lợi mua bán. Cuộc trao đổi giữa tôi với hai chị bán hàng diễn ra như sau:

- Chi ơi, chị có thuốc... không?
- Có đấy, đây này. (đưa ra một lọ thuốc)
- Chị còn loại nào nữa không?
- Không, cùng thuốc đó còn loại đóng vỉ nữa thôi.
- (Sau một hồi săm soi xem xét ) Sao loại đóng vỉ này lại đắt hơn loại đóng lọ hả chị?
Đến đây thì:
- Em đừng hỏi bọn chị tại sao, bọn chị không biết đâu. Blah blah blah... Đây là cửa hàng của nhà nước chỉ có thế thôi.
- Tại sao cửa hàng nhà nước lại chỉ có thế thôi? Nếu em mua ở cửa hàng tư nhân họ sẽ nói cho em biết ngay tại sao cùng một loại thuốc mà cái này lại rẻ hơn cái kia.
- (Khó chịu) Đây đã là cửa hàng của nhà nước rồi có nghĩa mua là yên tâm rồi còn cứ hỏi mãi. Blah blah blah...

Thật sự lúc đó trong đầu tôi hiện ngay ra hình ảnh nét mặt tươi cười của một cô bán thuốc ở một hiệu thuốc tư nhân nào đó mà tôi thường tiện đường ghé vào mua, không chỉ một cửa hàng và không chỉ là một người. Tôi tưởng tượng ra cô ấy nói với tôi thế này: "À, thuốc đóng vỉ đắt hơn là vì người ta phải bỏ chi phí đóng thành vỉ, nó sẽ để được lâu hơn trong trường hợp khách hàng không uống liên tục. Còn thuốc đóng lọ là dành cho người dùng nhiều liên tục sẽ rẻ hơn.chị ạ." Đấy, chỉ có một hai câu nói đó thôi mà sao thấy khó khăn với nhân viên "cửa hàng nhà nước" đến thế. Tôi chẳng biết chị ta có ý gì khi nói câu "mua của nhà nước là yên tâm rồi" mà chỉ "yên tâm" một điều là đã trót bước chân vào cửa hàng của nhà nước sẽ bị mắng bất cứ lúc nào cũng như chẳng bao giờ dám tơ tưởng tới suy nghĩ "khách hàng là thượng đế", và cũng cần chuẩn bị sẵn tâm thế người ta không cần bán hàng và mình vì thế sẽ không mua được hàng (vì bực mình bỏ đi chẳng hạn).

Tuy nhiên, hôm đó tôi vẫn mua một lọ thuốc, vì tôi đang vội nên cũng chẳng có thời gian tìm một cửa hiệu khác nữa. Lúc đó tôi nghĩ cửa hàng này chưa bị đóng cửa chắc là vì còn có những người khách dễ tính như tôi, dù bực mình nhưng cũng chặc lưỡi mua đại. Nhưng thực ra đối với tôi đó không phải là lần đầu tiên, trước đó tôi đã mua ở hiệu thuốc này một lần rồi và đã không hài lòng về thái độ bán hàng nhưng vì không nhớ lý do nên lần này tiện đường tôi lại ghé vào. Nhưng quả thật sau lần này tôi đã tự hứa với lòng mình không bao giờ quay lại cửa hàng đó một lần nào nữa hết. Nếu cứ dung túng cho thói xấu thì sẽ không bao giờ có sự thay đổi được. Tôi kể chuyện này cho bạn tôi nghe, không ngờ bạn tôi nói cũng ghét cửa hàng đó và từ lâu không mua thuốc ở đấy nữa rồi
. 

Đây không phải là một ngoại lệ và tôi có rất nhiều kỷ niệm mỗi khi mua hàng hay sử dụng dịch vụ của "nhà nước". Nếu như một ngày xấu trời nào đó chẳng may bước vào một nhà hàng hay phải dùng dịch vụ của "nhà nước", thể nào tôi cũng có cơ hội tự rủa thầm mình vì đã chọn nhầm chỗ. Nhưng ai bảo các "cửa hàng nhà nước" thường hay nằm ở những vị trí đẹp, đắc địa để khiến cho nhiều người vào nhầm chứ đâu phải mình tôi. Thực ra thì tôi đâu có ấn tượng gì xấu với cửa hàng hay dịch vụ của "nhà nước" đâu, tôi lúc nào cũng muốn ủng hộ nhà nước, mua hàng của nhà nước, dùng dịch vụ của nhà nước... Chỉ có điều có một số "người nhà nước" thì không tài nào mê nổi. Hay vì cả đời tôi chưa bao giờ được làm "người nhà nước", làm công nhân viên chức ăn lương nhà nước nên tôi không thể hiểu nổi tầm quan trọng của họ? Bởi vì dù bán được nhiều hay ít hàng hay thậm chí không bán được thì hàng tháng họ vẫn được lĩnh lương đều, cửa hàng thì không phải đi thuê hoặc tiền thuê thì cũng của nhà nước nốt. Nếu họ làm ăn không tốt thì cùng lắm là cửa hàng đó bị đóng cửa hay giải thể và họ được chuyển sang bộ phận khác chứ cũng ít khi sợ bị cho về vườn lắm lắm... Điều này khác một trời một vực với việc một người tư nhân tự bỏ tiền ra lo từ A đến Z cho cửa hàng của mình, nên dễ hiểu là khi có khách vào hỏi thì họ phải niềm nở và sẵn sàng trả lời những câu hỏi của khách để chỉ mong sao khách hàng đừng chạy sang cửa hàng bên cạnh. Trong khi đó, tâm lý của "người bán hàng nhà nước" thường được chăng hay chớ, mua thì mua không mua cũng chẳng ảnh hưởng gì đến ai. 

Mùa hè tôi hay đi bơi ở bể bơi trong khách sạn Thắng Lợi. Khách sạn này có một khuôn viên lớn nằm ngay cạnh hồ Tây và trong lúc bơi có thể nhìn ra một khoảng hồ Tây rất đẹp. Nói không ngoa thì vị trí của khách sạn này vào hạng gần như đẹp nhất trong số các khách sạn ở Hà Nội. Vậy mà ngoại trừ vị trí thuận lợi ra thì chẳng có gì nổi bật hết, phòng ốc thì cũ kỹ, dịch vụ thì nghèo nàn và thờ ơ. Ngay như bể bơi, ngoại trừ view đẹp ra thì các dịch vụ khác như tắm tráng hay phòng ốc để thay đồ phải gọi là tệ hại. Chính vì vậy mà mặc dù bể bơi nhỏ tí nhưng cũng không quá đông đúc vào mùa hè, vào lúc chớm thu thì hầu như chẳng có ai
. Cách đây vài năm sau khi bơi xong ra lấy xe đi về, tôi còn được mấy người trông xe kể cho nghe là nhân viên đang đình công vì mấy tháng rồi không được trả lương và rồi nhân viên bị đối xử tệ hại ra sao... Nghe xong chỉ biết thở dài, nghĩ bụng "khách sạn của nhà nước mà". Vị trí thì đẹp thế mà sao chẳng bao giờ có tên tuổi gì so với một số khách sạn khác của tư nhân. 

Nhà hàng Hapro Bốn Mùa nằm trên đường Lê Thái Tổ ngay cạnh hồ Gươm là một nhà hàng nằm trong chuỗi cửa hàng của Hapro (không phải ki ốt cafe Hapro ngay sát mép nước hồ Gươm đâu mà nằm đối diện qua đường với cái đó). Cửa hàng này nằm trên tầng 6 (tôi không nhớ chính xác lắm) và nhìn thẳng ra chiếc đồng hồ trên Bưu điện Hà Nội. Tôi đến đó vài lần chỉ vì từ đó có thể nhìn ra được cái đồng hồ và nhìn toàn cảnh hồ Gươm với một góc độ khác. Theo tôi biết thì đó là một công ty của nhà nước hoạt động với phương thức công ty mẹ-con. Tuy nhiên điều tôi muốn nói đến là mấy lần tôi tới để ăn sáng nhưng cửa hàng đó đều rất vắng khách, đồ đạc bàn ghế thì cũ kỹ và có lần tôi bị cô phục vụ ở đó lườm cho một phát suýt cháy mặt vì trót phàn nàn rằng nước phở ở đó hơi nguội (trong thực tế thì quá nguội). Không những thế, đĩa nhạc mà họ hay mở ở đó dường như cũng chỉ có một đĩa lặp đi lặp lại và đã quá cũ kỹ như từ thời thập kỷ 90 của thế kỷ trước vậy. Lần nào đến đây tôi cũng lẩm bẩm chẳng hiểu họ làm ăn gì với cái vị trí đẹp trời cho (mà thực ra là của ai đó cho) này cơ chứ.

Câu chuyện thứ hai

Con đường đê Ngọc Thụy bên kia cầu Chương Dương từ lâu đã bị xuống cấp, gồ ghề lồi lõm, chính vì vậy mà hồi 1000 năm Thăng Long - Hà Nội năm ngoái đã được tu bổ, sửa chữa. Đường đang xấu mà được sửa lại thì mừng quá chứ, còn phàn nàn cái nỗi gì nữa? Nhưng họ sửa thế nào mới là điều đáng nói. Họ làm mới hoàn toàn một đoạn ngắn, rồi bỏ bẵng đó vài tháng. Trước tết nguyên đán, họ làm tiếp một khúc nữa rồi lại để đấy. Sau tết nguyên đán, họ sửa nốt khúc cuối. Ừ thì thôi, không có nhiều tiền thì làm theo kiểu du kích vậy cũng được, khoảng chưa đầy 2 km đường nhưng làm trong 6 tháng cũng chẳng sao. Nhưng đó cũng chẳng phải là điều tôi thấy phiền muộn nhất. Điều phiền muộn nhất của tôi là từ sau lần sửa chữa đầu tiên, những đống đất đá trộn cát, nhựa đường cũ được cào xới lên để làm đường mới được vứt chỏng chơ trên vỉa hè. Rồi sau đó cứ để đấy hàng tháng trời mặc mưa gió bão bùng ngày này qua tháng khác. Rồi những lần sửa chữa tiếp theo, những đống đất cát, nhựa đường đó không những được xúc đi mà lại được làm dày thêm theo năm tháng, kể cả ngay trước tết là khoảng thời gian đáng ra nếu không có đường mới thì cũng nên được dọn sạch sẽ thì chúng vẫn nằm đó "trơ gan cùng tuế nguyệt". Mãi đến sau khi sửa lần cuối cùng tới vài tuần, tôi mới thấy mấy đống đất đá đó được chuyển đi, mà đâu có sạch sẽ gọn gàng gì, chúng được hót đi một cách cẩu thả, vẫn để vương vãi đến tận bây giờ... 

Đây cũng chỉ là một câu chuyện điển hình của biết bao nhiêu câu chuyện tương tự diễn ra hàng ngày hàng giờ ở Hà Nội. Có thể mọi người sẽ tặc lưỡi cho qua giống như nhiều người tôi biết vì đó là chuyện chẳng liên quan thiết thân tới mình. Với người dân thì nhà nước làm đường cho đi là tốt rồi, còn phàn nàn gì nữa, đầy nơi đường còn xấu ổ voi ổ gà kia kìa có sao đâu... Ừ, tôi chẳng phàn nàn gì, chỉ nghĩ rằng có lẽ đó là bản chất của con người ở những nước chưa giàu (tôi không dùng từ nghèo vì nước mình đâu còn nằm trong diện những nước nghèo nữa chứ). Bản chất đó là thường làm việc gì cũng không hoàn thành tới nơi tới chốn. Ví dụ như việc làm đường nói tới ở trên, khó khăn gì đâu mỗi khi làm xong khúc nào thì cố gắng hoàn thiện và làm sạch luôn khúc đó, cũng chỉ một chuyến xe thôi mà, lúc chở đá, cát đến để làm đường thì sao không xúc luôn phế thải lên đó để đem đi đổ, vừa tiết kiệm thời gian, tiền bạc mà lại sạch phố phường? Thế mới nói cái bản chất khiến cho nhiều người, bao gồm cả người làm con đường đó và những người qua lại cũng chẳng lấy làm gai mắt khi nhìn đống phế thải đó hàng ngày, coi chuyện đó là bình thường. Và chuyện làm xong nhưng chỉ là cho xong và còn lâu mới được gọi chữ hoàn thiện thì có vẻ quá xa lạ với nhiều người, nhiều ngành nghề trong xã hội. 

Đôi khi tôi cứ lẩn thẩn tự hỏi, thay vì chê bai ai/cái gì hay so sánh với bên ngoài thì mỗi người tự nhìn nhận lại bản thân mình và tự cố gắng hoàn thành tới cùng công việc của mình đi thì có lẽ xã hội sẽ tốt hơn rất nhiều. Cũng chẳng khó khăn lắm hoặc vượt quá công sức và thời gian nếu như chỉ để cố gắng hoàn thiện công việc mà mình đã bắt tay vào từ đầu đâu. Sẽ đơn giản nếu như đó chỉ là sở thích riêng của bạn và chẳng có hại đến ai như xem một bộ phim nếu không thích bạn chẳng cần xem đến kết thúc làm gì. Nhưng nếu công việc đó có ảnh hưởng đến người khác và nhất lại là công việc nghề nghiệp của bạn thì chữ hoàn thành là rất quan trọng. Chẳng ai viết báo cáo lại viết nửa chừng rồi bỏ đó. Không ai đánh giá cao người bắt tay vào làm việc thì rất tốt nhưng không bao giờ kết thúc công việc đó, nghĩa là chẳng bao giờ mang lại thành quả gì. 

Cô hàng xóm của tôi khéo tay lắm, cô ấy thích học làm hoa bằng vải lụa và học làm cho bằng được. Những ngày đầu tôi thấy cô miệt mài làm từ sáng tới tối và cô cũng làm cho tôi được một lọ hoa nho nhỏ, trong nhà cô hoa lụa bày khắp nơi, nhưng thường là những cành hoa đơn lẻ và đơn giản. Có lần mẹ tôi lên chơi một tuần, mẹ sang nhà cô hàng xóm và cũng học làm hoa lụa. Khoảng mấy tháng sau về thăm nhà, tôi ngạc nhiên khi thấy trong nhà mình rất nhiều những cây hoa đào, mai, lan các loại đã được đặt ngay ngắn trong chậu trông như một chậu cây to thực sự với đầu đủ cành lá hoa, gốc cây, cỏ giả... Mẹ tự hào nói nhiều người đến chơi cứ đòi mua mà mẹ không bán chỉ thích để chơi thôi, có nhiều người còn đặt hàng sản phẩm của mẹ nữa nếu có thời gian thì làm... Đấy chỉ là một sở thích tiêu khiển qua ngày thôi nhưng được ngắm nhìn một sản phẩm hoàn thiện vẫn thú vị hơn là những mảnh riêng lẻ chắp vá không đâu vào đâu cả. 

Thực ra tôi cũng chẳng nằm ngoài số đông những người có tính cả thèm chóng chán trên đời này và cũng không thích hoàn thiện những việc mà mình ghét. Tuy nhiên, càng nhìn lại bản thân và những người xung quanh tôi lại càng muốn thay đổi, không phải là một cuộc cách mạng thì cũng là một thay đổi dần dần từng chút một. Cho nên mới có những lần tôi cố thức đến 2-3h sáng chỉ để dịch cho xong một bản dịch cho khách hàng mặc dù đã quá buồn ngủ và chán ngán. Cho nên tôi bớt tặc lưỡi cho qua những gì mình có thể làm tốt hơn. Cho nên mỗi lần muốn đi tắt hoặc làm tắt cái gì tôi lại phải suy nghĩ lại. Vì mỗi lần tôi vội vàng muốn làm cho xong hoặc cẩu thả thì lại mỗi lần tôi phải trả giá bằng chính một điều rủi ro nào đó cho bản thân hay cho người khác. Cho nên dù khi tôi bắt tay vào viết entry này và thấy rằng nó quá dài và viết quá lâu thì tôi cũng cố viết cho xong mới yên tâm đi ngủ được
. Chẳng phải vì entry này là quan trọng mà chỉ để tôi không tự trách mình có cái entry nhỏ mà cũng không viết cho xong. Để ít nhất nếu không thể thành người thì tôi cũng biết được lý do là tại sao
. 

Thích Chandler

Hey, lâu lắm rồi mới rất thích một nhân vật trên truyền hình, lần này là anh chàng Chandler vui tính trong series show truyền hình "Friends" của Mỹ từ 1994-2004. Show này có 10 mùa chia thành 20 đĩa, xem đến mùa thứ 5-6 rồi mới tự dưng thấy rất thích nhân vật đó. Mặc dù thích cả 6 người bạn (3 nam, 3 nữ) trong show diễn nổi tiếng này vị họ rất thông minh, thú vị và vui vẻ cùng những tình huống hài cười đến vỡ bụng nhưng nếu nói về thích một người đàn ông như nào thì tôi thích anh chàng Chandler. Chẳng có lý do gì rõ rệt, khôn ngoan, hài hước, hay trêu chọc mọi người, hay nói chuyện cười, quan tâm tới người khác, yêu thương, chia sẻ, tình cảm, không thích cam kết một mối quan hệ lâu dài... Hai nhân vật nam chính khác là Ross và Joey cũng có những tính cách thú vị mà tôi rất thích nhưng có lẽ tôi thích Chandler hơn cả. Khi tìm hiểu về Matthew Perry, người đóng vai Chandler thì tôi biết một lý do tại sao tôi thích anh chàng đó, vì anh ấy thuộc cung Sư tử, lại đúng vào ngày sinh nhật của bố tôi
. Thật ngẫu nhiên và xác suất cao vì mỗi khi tôi thích tính cách một người đàn ông nào thì y như rằng đến khi xem ngày sinh hầu hết trong số họ thuộc về cung Sư tử. Một mối dây liên hệ tình cảm không lý giải nổi. Tại sao mình thích người này mà không thích người khác, tại sao có người vừa gặp đã có tình cảm mà có người ở bên cạnh rất lâu cũng không bao giờ có cảm tình nổi?


Nói vui vậy thôi, không phải quảng cáo cho người bán đĩa đâu nhưng nếu ai muốn luyện khẩu ngữ tiếng Anh tốt thì nên xem bộ đĩa này vì nó phản ánh chân thực cuộc sống hàng ngày của người Mỹ cũng như những tình huống xảy ra trong cuộc sống. Hơn nữa nó lại rất vui nên nếu xem một tiểu phẩm rồi sẽ muốn xem phần tiếp theo, cứ thế và cứ thế chứ không quá dài hay khó như xem những bộ phim khác.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011

Ai khiến xui ta

Cô bạn tôi, ngoài ba mươi, độc thân (mà không vui tính.) Không vui tính là vì cô ấy không thấy đời vui. Không thấy đời vui là vì lúc nào cô ấy cũng thấy đời đáng chán. Thấy đời đáng chán là vì cô ấy cho rằng chẳng có ai trên đời này hiểu được cô ấy.
. Cô ấy với tôi, cũng được coi là thân vì chơi với nhau gần hai mươi năm rồi. Hồi còn mười tám đôi mươi, cô ấy đã có nỗi buồn như thế, gặp mặt nhau ở đâu là kêu chán đời ở đó, rồi tự thán rằng không có ai hiểu mình. Tôi thường an ủi cô ấy thế này thế khác, cũng chỉ đến vậy mà thôi. Buồn từ trong tâm người khác làm sao tác động vào được. Đành rằng cuộc sống của cô ấy cũng có những nỗi buồn và khó khăn, lý do của những sầu thảm trong cô (nhưng có ai mà chẳng có lúc buồn hay khó khăn cơ chứ), nhưng tôi tự cảm thấy mình không đủ sức chia sẻ với nỗi buồn to lớn ấy. Vì thế mà tôi xa cô dần dần, tôi biết dù mình có ra sức an ủi đến thế nào đi chăng nữa thì cũng không thể khiến cô ấy vui lên được nếu như cô ấy không tự tìm niềm vui cho mình. Mười mấy năm rồi, mỗi lần gặp lại hay nói chuyện trên mạng, tôi lại gặp những nỗi buồn xưa cũ. Vẫn những trăn trở rằng sao không có ai hiểu ta, không có ai tri kỷ với ta trong cuộc đời? Trời ơi, nỗi buồn ấy ở tuổi hai mươi thì có thể hiểu được bởi vì tuổi hai mươi là tuổi mới bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, người trẻ tuổi thấy choáng ngợp trước cuộc đời và chưa định hình cho mình một con đường sống, một hướng đi cho tương lai nên thường có cảm giác bất an, muốn được dựa dẫm vào ai đó... Nhưng khi đã ngoài ba mươi, nếu như không may mắn gặp được một người tri kỷ thì lúc đó chắc cũng phải có bản lĩnh để chống chọi với cuộc đời, để mà chấp nhận và sống vui với cuộc đời. Bởi nói đi thì phải nói lại là kể cả những người có gia đình kia chắc gì họ đã tìm được một người hiểu họ, chia sẻ được với họ niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống. Vậy thì dù có độc thân hay không thì điều quan trọng vẫn là tạo lập được bản lĩnh trong cuộc sống của chính mình, chấp nhận được việc niềm vui của mình là tự trong bản thân của mình mà ra chứ không phải do người khác đưa lại. 
Cô bán hàng rau ngoài chợ gần nhà tôi, xinh xắn, vui vẻ, xởi lởi và giá cả thường rẻ hơn người khác nên bán rất đắt hàng. Tôi mến cô ấy nên luôn mua rau của cô và thường mua rất nhiều dù nhiều lần bỏ quên trong tủ lạnh không ăn rồi cuối cùng lại phải bỏ đi. Có lần tôi hỏi em lấy rau ở đâu, có phải ở chợ Long Biên không? Cô ấy bảo rau nhà em trồng và em lấy của những nhà hàng xóm, em có biết cái chợ Long Biên đó ở đâu đâu, cả cái cầu Long Biên ấy em có nhìn thấy rồi mà chưa bao giờ đi qua. Trời đất, nhà cô ấy ở Đông Anh cũng thuộc Hà Nội và nơi cô ngồi bán rau hàng ngày rất đều đặn, ngày nắng cũng như ngày mưa, ngày hè nắng nôi cũng như mùa đông lạnh giá chỉ cách chân cầu Long Biên chưa tới 4km. Cô ấy chỉ kém tôi vài tuổi thôi, tôi hỏi thế em không bao giờ sang bên Hà Nội à, cô ấy bảo không. Tôi kêu sao đời mày khổ thế em ơi. Là cũng buột miệng ra thế thôi chứ chắc gì cô ấy đã thấy cô ấy khổ. Cuộc sống của người nông dân suốt ngày vui với ruộng vườn, con cái, một niềm vui đơn giản đến tối giản. Và vì xung quanh họ ai cũng thế, họ không biết đến sách báo, không biết đến internet và có lẽ cũng ít có thời gian xem ti vi nữa nên họ thấy điều đó là bình thường và họ không biết cuộc sống của họ thiệt thòi đến thế nào. Vì không biết nên cuộc sống của họ chỉ cần ăn đủ no, mặc đủ ấm, cây cối tươi tốt được mùa, hàng ngày bán được hàng, con cái ngoan ngoãn, chồng con chăm chỉ làm ăn, không đánh đập hay rượu chè bét nhè suốt ngày là họ cảm thấy hạnh phúc rồi, cái hạnh phúc giản dị và đạm bạc. Và vì họ không biết nên họ không có nhu cầu đi du lịch hay đi đây đi đó cho mở mang đầu óc, dù chỉ là bước chân qua một cây cầu. Âu cũng là số phận của từng người, nhưng có lẽ họ hạnh phúc vì biết chấp nhận và hài lòng với cuộc sống của mình.
Kể ra đây chắc mọi người nghĩ cuộc sống của cô bạn tôi buồn thảm lắm. Thực ra không phải vậy, cô ấy có công việc tạm được, thu nhập chắc cũng không đến nỗi nào. Cô ấy lại thường xuyên đi du lịch, Bắc Trung Nam đủ cả và hầu như năm nào cũng đi du lịch nước ngoài nữa. Không phải so sánh bởi bất cứ sự so sánh nào cũng đều khập khiễng nhưng quả thật tôi có thấy sự khác nhau giữa một gương mặt luôn tươi cười của cô bán rau gần nhà tôi với gương mặt ngày càng héo hắt đi vì nỗi buồn của cô bạn tôi. Mà cái nỗi buồn ấy mới trừu tượng làm sao, mới mơ hồ làm sao. Buồn vì không hài lòng với cuộc sống của mình và vì không có ai hiểu nổi mình. Tôi chẳng dám khuyên cô ấy vì hơn gì nhau mà khuyên nhưng có lần tôi bảo sao không tìm cách hiểu người ta đi trước khi than rằng người ta không hiểu mình. Nhưng cô ấy bảo người ta không quan tâm tới mình thì thôi tại sao mình phải quan tâm tới người ta. Ôi thôi, bó tay toàn tập rồi, tôi chẳng dám ho he gì nữa. Tôi thấy mình may mắn vì tìm được người cùng sở thích với tôi, cùng suy nghĩ và chính kiến với tôi, có thể chia sẻ với tôi niềm vui nỗi muộn phiền trong cuộc sống. Hay vì như thế mà tôi không thể hiểu nổi tâm trạng trống trải của cô bạn tôi? 
Nhưng nhìn lại cuộc sống của mình không phải lúc nào tôi cũng có người ở bên và những lúc đó cũng chính là khoảng thời gian tôi mài giũa cho mình một bản lĩnh sống mạnh mẽ, tự dựa vào chính bản thân mình, kể cả về mặt tinh thần. Điều quan trọng là tôi luôn yêu thích và không ngại kết thêm những người bạn mới, dù không phải người bạn nào cũng là tri kỷ nhưng điều đó có quan trọng gì. Giảm thấp yêu cầu thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Không kỳ vọng thì sẽ không thất vọng. Đời người ngắn ngủi lắm và dù thành công hay chưa thành công thì điều quan trọng nhất vẫn là sống hạnh phúc, sao không lựa chọn những gì phù hợp với mình nhất để có thể hạnh phúc. Bởi dù bạn có đạt tới đỉnh cao quyền lực hay tột bậc giàu có thì cùng lắm cũng chỉ sống được trăm năm mà thôi. Trăm năm trong chuỗi hàng tỷ năm tồn tại của vũ trụ trước khi có bạn và cả sau khi bạn chết đi rồi. Khi bạn chết đi rồi thì còn ai nhớ đến bạn nữa? Mà dù họ có nhớ thì lúc đó hỏi còn ý nghĩa gì với bạn không? Hay chỉ là cái danh hão huyền? Được lưu danh hậu thế kể cũng vinh dự đấy nhưng hỏi trên đời này được mấy người. Vậy thì hãy loại bỏ bớt những phù phiếm đi để mà sống thực chất hơn, loại bỏ những hình thức màu mè đi để mà sống với đúng bản chất của mình. Và đừng có than phiền rằng không có ai hiểu mình nữa mà hãy tìm cách hiểu bản thân mình trước đã. Bởi tôi chắc rằng những người than vãn không có ai hiểu mình chính là những người không hiểu được bản thân họ. Nếu tự bạn không hiểu bản thân bạn thì làm sao có ai hiểu nổi bạn chứ? Cho nên kêu than cũng chỉ là để kêu than đấy thôi, nếu như không tìm cách hiểu được bản thân mình thì dù hai mươi hay bảy mươi tuổi thì nỗi buồn ấy vẫn sẽ to lớn giống y chang nhau mà thôi. Và đi cùng với nó sẽ là nỗi tiếc nuối. Tiếc nuối những gì đã qua mà không bao giờ lấy lại được nữa...

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

Paper Moon



Bạn có biết người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Oscar giành được tượng vàng cao quý này là ai không? Đó là Tatum O'Neal, cô đã đạt giải thưởng dành cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất trong phim "Paper Moon" (Trăng giấy) vào năm 1974 khi mới tròn 10 tuổi (không tính tượng vàng Oscar được đúc riêng tặng cho cô bé thiên thần Sirley Temple vào năm 1934 khi cô mới 6 tuổi. Tôi rất yêu thích cô bé này và sẽ có một bài viết riêng về cô sau 
.)

Mặc dù đã xem đi xem lại bộ phim Paper Moon nhiều lần nhưng diễn xuất của Tatum O'Neal luôn đem đến cảm giác ngạc nhiên xen lẫn thán phục trong tôi. Dường như cô sinh ra để đóng phim và tài năng của cô là không thể bàn cãi (mặc dù thật tiếc đó là bộ phim duy nhất để lại tiếng vang cho cô và có lẽ sự thành công quá sớm đã phá hỏng cuộc đời sau này của cô.)

Bộ phim nói về anh chàng chuyên lừa đảo Moses Pray (do Ryan O'Neal, cha ruột ngoài đời của Tatum O'Neal, cũng là ngôi sao trong phim Love Story, thủ vai) và cô bé Addie Loggins, con gái của một gái điếm. Mở đầu bộ phim là cảnh đám tang mẹ cô bé Addie, anh chàng Moses cùng chiếc xe cà khổ trên đường đi ngang đã ghé qua bởi lúc mẹ cô bé còn sống họ từng có quan hệ với nhau. Cô bé Addie lúc này bơ vơ trên đời vì chẳng ai biết cha cô là ai và cô cũng chẳng có họ hàng thân thiết nào ở gần nên những người hàng xóm nhờ Moses đưa cô đến nhà bà dì ở xa. Cô bé khăng khăng Moses là cha của cô nhưng anh ta không thừa nhận. Trên đường đi, Moses gặp và thuyết phục được anh trai của người đàn ông đã lái chiếc xe đâm vào cây và gây ra cái chết cho mẹ của Addie đưa cho anh ta hai trăm đô la để đưa cho Addie. Nghe lỏm được câu chuyện giữa hai người, cô bé đòi Moses trả mình số tiền đó. Tuy nhiên, Moses đã dành gần một nửa số tiền để sửa xe nên anh ta đành phải đồng ý đi cùng với Addie và kiếm tiền cho đến khi kiếm đủ 200 đô la để trả cho cô.

Trên con đường đồng hành, Addie nhanh chóng phát hiện ra cách Moses kiếm tiền. Anh ta đọc mục Tin buồn trên báo để tìm địa chỉ những người phụ nữ vừa mất chồng, đến gõ cửa nhà họ và giả vờ là chồng bà ta đã đặt mua cuốn Kinh thánh để tặng cho người vợ yêu. Những bà quả phụ đáng thương thường sẵn sàng trả tiền cho cuốn sách được in tên mình trên đó. Addie sau đó nhập cuộc vào trò lừa đảo, giả vờ là con gái của Moses và cũng nhanh chóng thể hiện tài năng bẩm sinh của mình trong những trò bịp bợm khác. Họ trở thành một đội rất ăn ý và kiếm được khá nhiều tiền. Dần dần họ cũng quên mất việc phải đưa Addie đến nhà bà dì.

Một lần, Moses cho một vũ nữ thoát y là Miss Trixie Delight cùng cô hầu người châu Phi của mình quá giang. Addie kết bạn với cô hầu đó nhưng việc Moses càng ngày càng tập trung chú ý đến Miss Trixie mà quên mất việc kiếm tiền khiến cô bé ghen tức, nhất là khi anh ta đã tiêu một số tiền lớn vào việc mua chiếc xe hơi mới nhằm gây ấn tượng với Trixie thì Addie càng quyết tâm tìm cách rũ bỏ người phụ nữ này. Khi họ đến một khách sạn, cô đã lôi kéo được cô hầu vào âm mưu của mình và hứa sẽ cho cô hầu một số tiền để trở về với gia đình. Cô bé sắp đặt việc Trixie ngủ với nhân viên tiếp tân của khách sạn và để Moses là người bắt quả tang vụ việc. Quá tức giận, Moses đã cùng cô bé bỏ đi, trở lại con đường thiên lý của mình.

Tại một khách sạn ở vùng Kansas, Moses và Addie phát hiện ra kho chứa rượu của một người bán rượu lậu. Họ đã ăn trộm được một số rượu lớn và bán lại cho chính người bán rượu lậu đó. Không may thay, anh trai của kẻ bán rượu lậu đó lại là cảnh sát trưởng trong vùng nên họ mau chóng bị bắt. Cô bé Addie nhanh trí đã giấu được số tiền và đánh cắp lại được chìa khóa ô tô, họ chạy trốn đến vùng Missouri, nơi luật pháp của Kansas không thể động tới họ được. Tuy nhiên, sau đó viên cảnh sát trưởng kia đã tìm ra họ và mặc dù không có quyền bắt giữ họ nhưng ông ta đã đánh cho Moses một trận tơi bời và cướp đi toàn bộ số tiền họ đang có. Khi tìm thấy Moses đang nằm lê lết tại một góc phố, Addie cố thuyết phục anh ta rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp trở lại thôi và họ sẽ làm lại từ đầu và sẽ kiếm được rất nhiều tiền nhưng Moses quyết định sẽ đưa Addie đến nhà người dì.

Khi đến nhà người dì, Addie cảm thấy cô đơn lạc lõng nên đã quay trở lại con đường, nơi Moses đang ngồi lặng lẽ trong chiếc ô tô và ngắm tấm ảnh cô bé ngồi trên mảnh trăng giấy mà cô bé đã tặng lại cho anh ta trước khi xuống xe. Nhìn thấy cô bé, Moses nói anh không cần cô  nữa nhưng Addie nói rằng anh vẫn còn nợ cô 200 đô la. Moses bực tức ném chiếc mũ đang đội trên đầu xuống đất nhưng chẳng còn cách nào khác là phải cho cô bé đi cùng. Và thế là họ lại cùng nhau tiếp tục hành trình...

Addie trong phim là một cô bé có vẻ mặt xinh xắn nhưng lì lợm, giống con trai nhiều hơn và biết hút thuốc lá từ rất sớm.  Cô bé cũng rất đáo để và thông minh, nhanh trí khiến cho anh chàng Moses cũng phải nể và để cô bé quản lý tiền bạc. Mặc dù hành nghề lừa đảo nhưng cô bé cũng rất tốt bụng và biết cảm thông với những người nghèo khổ, như khi gặp một bà góa nghèo đông con, cô bé không lấy tiền cuốn Kinh thánh mà giả vờ là chồng bà đã trả tiền rồi và tặng bà ta cuốn sách đó. Lần khác cô cố thuyết phục Moses cho tiền một gia đình nghèo bên đường nhưng không thành công. Đằng sau vẻ mặt lì lợm ngang bướng, cô cũng là cô bé rất tình cảm, luôn giữ tấm ảnh chụp cùng mẹ và những đồ trang sức mà mẹ để lại bên mình. Cô cũng muốn chụp ảnh bên mảnh trăng giấy cùng Moses vì cô luôn nghĩ rằng Moses chính là cha của cô nhưng anh ta đã từ chối nên cô đành phải chụp ảnh một mình. Hình ảnh cô bé bên mảnh trăng giấy chính là thể hiện khát khao tình cảm gia đình của cô...

Tôi yêu thích bộ phim này không những bởi tài diễn xuất tuyệt vời của Tatum O'Neal mà còn bởi phim được quay trên những con đường dài hoang vắng của tỉnh Kansas nước Mỹ. Tôi thường thích những cảnh quay ngoài trời đó hơn những cảnh quay được sắp đặt trong trường quay và bởi đã quá chán ngán với phố phường đông đúc, tôi có xu hướng thích sự cô đơn trống trải với những con đường đi giữa cánh đồng xa ngút ngàn tầm mắt...

Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011

The Kite Runner

Đêm qua thức đến gần 3h sáng để kết thúc cuốn "The Kite Runner" của tác giả Khaled Hoseini người Afghanistan (tạm dịch là Người dẫn diều, chưa tìm được tiêu đề nào thích hợp hơn). Cái kết cảm động lấy được chút nước mắt của mình, những giọt nước mắt càng ngày càng hiếm hoi ấy 
. Giải thích qua về cái tiêu đề này chút, ở một số địa phương của Afghanistan trước kia hàng năm thường tổ chức một cuộc thi diều cho trẻ em. Diều nào đánh cho các diều khác rơi hết và còn bay được lâu nhất sẽ chiến thắng. Tham gia cuộc thi thường là một nhóm hai người, một người dắt diều và đánh nhau với các diều khác; một người chạy theo chiếc diều đứt dây đang rơi xuống để "dẫn độ" về bởi vì người đầu tiên nắm được dây chiếc diều bị rơi sẽ là người sở hữu chiếc diều đó. Tiêu đề cuốn truyện này chính là nói về người chạy theo chiếc diều đứt dây để dẫn về.

Cuốn truyện được viết dưới hình thức tự truyện của chính tác giả. Cậu bé Amir mồ côi mẹ từ khi mới lọt lòng trải qua một tuổi thơ êm đềm bên người cha tên là Baba, một thương nhân rất thành công và giàu có ở thủ đô Kabul của Afghanistan. Baba có một người hầu tên là Ali, đã cùng lớn lên với ông từ tấm bé. Con trai của Ali kém Amir một tuổi tên là Hassan, mẹ cậu bé đã bỏ đi từ khi cậu mới được vài ngày tuổi. Hai cậu bé đều được nuôi từ sữa của cùng một bà vú nuôi nên thân thiết như hình với bóng. Hassan rất yêu quý Amir và luôn trung thành với cậu chủ, luôn bảo vệ cậu chủ trước những trêu chọc của trẻ con khác nhưng vì Hassan thuộc đẳng cấp xã hội thấp hơn nên Amir dù cũng yêu quý Hassan nhưng chưa bao giờ coi cậu ngang hàng với mình hay là bạn của mình. Cha của Amir yêu quý cả hai cậu bé và đôi khi Amir thấy ghen tị với tình cảm của cha dành cho Hassan và cảm thấy cha xa cách với mình vì cậu nghĩ việc mình sinh ra đời đã gây ra cái chết của mẹ cậu. Baba luôn muốn con trai trở thành một người đàn ông thực thụ với những thú vui của đàn ông như đá bóng hay những trò thể thao khác trong khi Amir lại chỉ thích đọc sách và bộc lộ khả năng viết văn từ rất sớm. Cũng chính vì thế mà ông thấy ngưỡng mộ Hassan vì cậu bé tỏ ra mạnh mẽ và luôn bảo vệ Amir khỏi những đứa trẻ xấu.

Trong những cuộc thi thả diều, Amir và Hassan thường là một đội và Hassan rất giỏi phán đoán vị trí diều rơi nên thường chạy theo để dẫn diều về cho Amir. Vào mùa đông năm 1975, lúc đó Amir mười hai tuổi, hai cậu bé cùng tham gia cuộc thi năm đó. Amir rất muốn cha tự hào về mình và muốn giành lấy tình yêu của cha nên cậu đã cố gắng hết sức để thắng cuộc. Cậu đã trở thành người chiến thắng và khi chiếc diều cuối cùng rơi xuống, Hassan chạy đuổi theo diều để dẫn về cho Amir. Trước khi chạy đi, cậu bé nói với Amir một câu: "For you, a thousand times over." (Hàng nghìn lần vì cậu.) Đó là một buổi chiều muộn, mãi không thấy Hassan về, Amir chạy đi tìm và cậu đã chứng kiến một cảnh tượng đau lòng. Assef cùng đồng bọn là một nhóm trẻ hư và thường bày trò bắt nạt hai cậu bé nhiều lần trước đây nhưng Hassan thường giải cứu cho cậu chủ nên Assef đem lòng thù hận hai cậu bé. Trong buổi chiều hôm đó, khi Hassan lấy được chiếc diều đứt dây đang trên đường về thì gặp Assef và nhóm bạn của hắn. Assef yêu cầu Hassan đưa cho hắn chiếc diều đó thì hắn sẽ tha cho cậu nhưng Hassan nhất quyết không đưa. Thế là Assef đã làm một việc làm tồi tệ là hãm hiếp cậu bé rồi để cậu bé đi. Đứng nấp ở một chỗ khuất trong bóng chiều nhập nhoạng, Amir đã chứng kiến tất cả nhưng vì hèn nhát và ích kỷ muốn có chiếc diều như một chiến lợi phẩm khoe với cha nên cậu đã không dám chạy ra cứu Hassan mà chỉ lầm lũi trở về như không biết chuyện gì đã xảy ra. Từ sau chuyện đó, mối quan hệ giữa hai cha con cậu được cải thiện đáng kể nhưng cậu lại sống trong nỗi nhức nhối tâm can của tội lỗi về sự phản bội và sự hèn nhát của bản thân mình. Cậu luôn bị dày vò trong đau đớn và Hassan cũng trở thành một con người khác, lầm lì, buồn bã và ít nói hơn. Sai lầm nối tiếp sai lầm, không tha thứ được cho mình nhưng và cũng không giải thoát nổi khỏi tội lỗi và không dám kể với ai về những gì cậu đã tận mắt nhìn thấy, Amir tìm cách đẩy Hassan ra khỏi cuộc sống của mình. Sau sinh nhật hoành tráng của cậu, cậu đã lén bỏ tiền dưới gối của Hassan để vu cho cậu ta lấy cắp tiền và quà sinh nhật của cậu để cha đuổi cha con Hassan đi. Mặc dù Baba sẵn lòng tha thứ và tha thiết giữ hai cha con họ ở lại nhưng Hassan đã nhận là lấy cắp tiền và hai cha con họ lặng lẽ ra đi...

Đến năm Amir mười tám tuổi, tình hình chính trị trong nước xảy ra nhiều biến động với sự xuất hiện của quân đội Xô viết trên đất Afghanistan. Baba quyết định bỏ lại tất cả rồi cùng con trai sang Mỹ nhập cư. Từ một người rất nổi tiếng, giàu có, Baba trở thành một người công nhân bình thường lao động cật lực để nuôi con ăn học. Lúc này Amir đã là sinh viên của trường dạy viết văn và mong ước trở thành một nhà văn lớn. Anh gặp và kết hôn với con một người bạn cũ của cha. Baba sau đó chết vì bệnh ung thư. Cuộc sống cứ êm đềm trôi qua, Amir đã xuất bản một số cuốn sách và có tiếng vang khá lớn nhưng họ không thể có con.

Một ngày mùa hè năm 2000, người bạn cũ rất thân thiết của Baba, Rahim Khan gọi điện cho Amir nói rằng ông đang ở Pakistan, một nước láng giếng của Afghanistan, đang ốm nặng sắp chết và rất muốn gặp anh. Amir bay đến Pakistan và qua Rahim Khan khám phá ra rằng Hassan chính là em cùng cha khác mẹ với mình nhưng vì định kiến xã hội nên Baba đã không dám thừa nhận con trai, chỉ biết yêu con trong đau đớn, và chính vì ông thấy xấu hổ với bản thân mình nên ông đã không bao giờ yêu Amir bằng tất cả trái tim mình như cậu từng mong muốn. Anh cũng biết được rằng trong thời gian mấy chục năm anh và cha anh sống ở Mỹ thì Rahim Khan đến ở trông nhà giúp họ và ông đã đón Hassan lúc này đã có vợ về ở cùng trong chính căn nhà cũ. Hassan có một cậu con trai tên là Sohrab, rất giỏi bắn súng cao su. Khi quân Taliban chiếm toàn bộ lãnh thổ Afghanistan, trong lúc Rahim Khan sang Pakistan chữa bệnh, chúng đã giết vợ chồng  Hassan và cậu bé Sohrab bị đưa vào trại trẻ mồ côi. Rahim Khan muốn Amir trở về Afghanistan đón Sohrab sang Pakistan để sống trong một trại trẻ mồ côi rất tốt ở đây. Chính vì câu nói cuối cùng
của ông "There is a way to be good again." (Luôn có cách để trở lại làm người tốt) mà Amir hiểu rằng ông đã biết mọi chuyện nên đồng ý chấp nhận rủi ro quay về Afghanistan lúc đó đang rất rối ren và nguy hiểm để tìm Sohrab.

Khi trở về Afghanistan, anh được biết Sohrab không còn ở trại trẻ mồ côi nữa mà đã bị một lãnh đạo trong quân đội Taliban đưa đi. Khi anh đến để tìm cậu bé, anh đã chứng kiến cảnh hành quyết một vụ ngoại tình rất dã man bằng cách ném đá cho đến chết và phát hiện ra rằng kẻ ra lệnh hành quyết và kẻ đang giữ Sohrab không phải ai khác mà chính là người quen cũ, Assef. Assef đồng ý để anh đem cậu bé đi với điều kiện phải đánh nhau với hắn trong một trận chiến chỉ có một người thắng. Amir đã bị Assef đánh cho thừa sống thiếu chết và chính lúc hắn định kết liễu cuộc đời anh thì cậu bé Sohrab đã dùng súng cao su bắn thủng một mắt của Assef và thế là anh được đưa cậu bé đi.

Anh phải nằm viện một thời gian và khi đưa cậu bé sang Pakistan anh phát hiện ra rằng không có trại trẻ mồ côi mà Rahim Khan đã nói tới đó nên anh quyết định sẽ nhận cậu bé làm con nuôi và đưa cậu bé về Mỹ với mình. Lúc đầu cậu bé rất xa cách và sợ hãi nhưng anh dần dần lấy được niềm tin của cậu bé, cậu bé trở nên vui vẻ khi nghĩ đến cuộc sống mới của mình ở Mỹ. Anh đã hứa với cậu bé sẽ không bao giờ để cậu bé trở lại trại trẻ mồ côi nữa vì cậu bé đã từng bị lừa dối và đã bị lạm dụng tình dục bởi Assef và thuộc hạ của hắn. Nhưng việc nhận con nuôi là người Afghanistan thời gian đó là vô cùng khó khăn và gần như không thể vì chính quyền lúc đó nằm trong tay quân Taliban và Mỹ không có Đại sứ quán ở nước này. Một luật sư đã bày cách cho Amir là để Sohrab sống trong một trại trẻ mồ côi ở Pakistan một thời gian và anh sẽ làm đơn xin nhận con nuôi ở trại trẻ đó. Khi anh nói kế hoạch này với Sohrab, cậu bé đã khóc và cầu xin anh đừng để cậu trở lại trại trẻ mồ côi một lần nữa rồi cậu thiếp đi. Amir sau đó cũng thiếp vào giấc ngủ và khi vợ anh gọi điện báo rằng cô đã xin được visa trong vòng một năm cho cậu bé sang Mỹ và chỉ cần cậu bé sang được Mỹ thì họ sẽ có cách để xin nhận cậu làm con nuôi. Anh rất vui mừng báo tin đó cho Sohrab lúc này đang trong phòng tắm nhưng không thấy cậu bé trả lời. Khi anh mở cửa phòng tắm, anh phát hiện ra Sohrab đã tự tử bằng cách dùng dao cạo râu rạch vào tay và đang nằm trong bồn tắm. Cậu bé được đưa vào bệnh viện và được cứu sống nhưng từ đó trở đi cậu trở nên câm lặng không nói một lời nào. Kể cả khi Amir đưa cậu bé về Mỹ sống cùng vợ chồng anh được gần một năm.

Đầu năm 2002, vài tháng sau vụ 11/9, Mỹ tấn công Afghanistan và quét sạch quân Taliban, Amir và một số người bạn đã xây dựng nên một bệnh viện cho những người tản cư người Afghanistan ở biên giới với Pakistan. Sau khi bệnh viện hoàn thành và cũng là dịp năm mới của người Afghanistan, anh cùng những người bạn đồng hương và gia đình đến một công viên để ăn mừng. Hôm đó, Sohrab vẫn lặng lẽ như bình thường nhưng rồi anh phát hiện ra cậu bé đang dõi theo những cánh diều trên bầu trời. Anh chạy đi mua một chiếc diều và yêu cầu Sohrab giúp anh thả diều, ban đầu cậu bé lặng im không nói gì nhưng khi thấy anh lúng túng với chiếc diều, cậu bé đã giúp anh thả cho diều bay lên rồi anh đã đánh cho một chiếc diều đứt dây. Anh quay sang hỏi cậu bé có muốn anh dẫn chiếc diều đó về cho cậu không, cậu bé không trả lời nhưng anh đã nhìn thấy một nụ cười rất khẽ trên môi cậu và anh nghĩ rằng anh thấy cậu gật đầu. Và thế là anh nói một câu "For you, a thousand times over" rồi chạy theo chiếc diều đó cùng với đám trẻ con chạy xung quanh. Vừa chạy anh vừa mỉm cười...

Vẫn còn quá sớm để có thể nói đó có phải là một "happy ending" hay không vì chính tác giả cũng nói như vậy và tác phẩm cũng chỉ kết thúc ở đó. Nhưng tôi vẫn muốn tin rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với tất cả những nhân vật trong truyện, bởi vì dù ở đâu và dù chuyện gì xảy ra thì vẫn "Luôn có cách để trở lại làm người tốt."

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011

Ngày xuân lạc bước



Đêm Sài Gòn một ngày cuối năm.



Giữa phố phường ồn ã vẫn có những khoảng lặng thuần khiết như thế này. Ảnh chụp trong Khu du lịch Văn Thánh - Sài Gòn ngày đầu năm.



Đà Lạt mộng và thơ, hồ Hồ Xuân Hương mùa xuân xanh đến nhức mắt.



Trong khu du lịch Thung lũng tình yêu - Đà Lạt.



Em bé này tôi gặp đang bán hàng ở chợ đêm Đà Lạt. Tôi thích gương mặt xinh và chiếc mũ đội trông rất nghệ sĩ.



Ngọn đuốc hoa giữa trung tâm Hải Phòng, phía bên kia là hàng cờ tổ quốc tung bay trong gió.



Nhà kèn Hải Phòng - nơi chốn kỷ niệm của rất nhiều ai đó mà tiếc là không phải của tôi vì mặc dù đi qua nhiều lần nhưng tôi chưa bao giờ ngồi đó hóng gió.



Bản đồ Việt Nam được tỉa bằng cỏ ngay cổng vào Thung lũng tình yêu Đà Lạt, ba chòm hoa mọc lên ba chỗ tượng trưng cho ba thành phố lớn ở ba miền: Hà Nội, Đà Nẵng, tp HCM.

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Cafe Hà Nội - Sài Gòn - Đà Lạt

Chẳng ai hỏi nhưng tôi tá»± nhận mình là con người cá»§a cafe, cá»§a các quán cafe thì đúng hÆ¡n vì dù ở đâu hay Ä‘i đến đâu thì nÆ¡i tôi thường xuyên lui tá»›i nhất không phải là những danh lam thắng cảnh mà chính là các quán cafe. Không giống như má»™t số người cứ Ä‘i chÆ¡i  nÆ¡i nào đó là phải lao ngay ra chợ mua mua sắm sắm rồi ra về hỉ hả vá»›i túi lá»›n túi bé hàng hóa hay đồ ăn, quà cáp, tôi ngược lại rất thờ Æ¡ vá»›i các hoạt động rất chi là phụ nữ này. Tôi thích tìm đến những quán cafe có phong cách độc đáo vá»›i má»™t tầm nhìn rá»™ng mở để có thể ngắm nhìn dòng người qua lại và từ đó có thể biết thêm má»™t chút gì về người dân nÆ¡i đấy. Âu cÅ©ng là cái liá»…n, cÅ©ng là tiêu tiền nhưng má»—i người có má»™t cách tiêu tiền hay thú vui tiêu khiển khác nhau vậy.

Trước đây tôi cũng ngồi cafe thường nhưng tôi chỉ để ý đến phong cách trang trí của quán hay có khi chỉ là một chỗ dừng chân để giải khát hoặc là chỗ để có thể nhìn ngang ngó dọc ra ngoài. Giờ đây, khi đã "có tuổi" hơn, tôi bắt đầu để ý thêm đến chất lượng của đồ uống và phong cách phục vụ của quán. Thực ra những điều này cũng đã được đọc nhiều trên báo chí rồi nhưng cái gì rút ra từ kinh nghiệm của bản thân vẫn hay hơn. Nhân tiện Tết vừa rồi có lang thang một số quán cafe Sài Gòn và Đà Lạt nên thử đưa ra vài phép so sánh vui vui.

Nói về chất lượng thì chắc cafe Sài Gòn phải đứng thứ nhất vì nó ở gần đất cafe nhất và các thương hiệu lớn cả trong và ngoài nước đều chọn Sài Gòn là điểm đến đầu tiên. Hà Nội có một số thương hiệu riêng nhưng cũng chỉ trong phạm vi rất nhỏ hẹp địa phương và cũng chỉ có một số lượng khách hàng thường xuyên nhất định mà thôi. Cafe Đà Lạt không có gì đặc sắc và nếu nói về các loại cafe ngoại nhập thì còn phải chạy theo hai thành phố kia dài dài.

Hà Nội thường tự hào là một nơi thanh lịch với thú uống cafe tao nhã, có khi chỉ một ly cafe bé tẹo mà nhâm nhi cả buổi sáng hay buổi tối nhưng với tôi cái sự tự hào đó hơi buồn cười, giống như một người già mắt mờ chân chậm nhưng vẫn cố níu giữ những hoài niệm đã qua đi từ đời nảo đời nào rồi. Tôi vốn là người có đầu óc thực tế nên với tôi đó có vẻ là một sự lãng phí. Nếu cả buổi sáng hay buổi tối quán chỉ có vài khách đăm chiêu như thế thì làm ăn thua lỗ là cái chắc. Các quán Sài Gòn thì khác, vừa ngồi xuống ghế đã có người bê nước trà đá ra, rồi menu, chọn đồ ăn đồ uống, rồi trong suốt quá trình mình ăn uống họ luôn canh me để rót thêm nước trà miễn phí, rồi vừa ăn xong món nào họ đã dọn ngay đĩa đi, rồi hỏi có dùng thêm cái này cái kia hay không... Ở Hà Nội á, ngồi xuống ghế may ra thì được cốc nước chè hoặc nước lọc từ đầu đến cuối, có thích uống thêm thì xin, nếu gọi trà thì phải tính thêm tiền. Ở Đà Lạt cũng được phục vụ trà miễn phí và mỗi quán đều có hương vị riêng, trà sen, trà nhài, trà gừng, trà bạc hà... đủ cả nhưng thường được để trong một ấm tích rất lịch sự đi kèm với chén uống nước. Không biết mọi người thì thế nào chứ với tôi, chỉ cần quan sát phong cách phục vụ trong quán cafe của mỗi địa phương là có thể hiểu được tại sao lại có nơi giàu và có nơi nghèo.

Ngày cuối năm, tôi ngồi cafe Windows trên phố Nguyễn Đình Chiểu ở Sài Gòn, quán rất rộng, trang trí đẹp mắt và tuy là cuối năm nhưng rất đông khách. Những phục vụ đi lại như con thoi, nước trà đá liên tiếp được rót, cứ uống cạn một ngụm lại được tiếp thêm một ngụm hoặc bỏ thêm đá nếu đá đã tan hết, hoặc nếu nước trà đó đã để lâu lâu một chút là được thay ngay một cốc trà khác. Cứ ăn hay uống xong một món là lại có người đến thu dọn cốc đĩa, rồi liên tục hỏi khách có ăn tráng miệng không, có dùng thêm món khác không. Có vẻ châm ngôn của họ là không được để khách rảnh rỗi lúc nào và luôn gợi ý cho khách những điều có khi sẽ bị lãng quên nếu như không hỏi tới. Và nếu như khách sau khi bị thu dọn hết đồ trên bàn rồi, nếu muốn ngồi thêm chắc chắn sẽ gọi thêm gì đó để uống hoặc nếu không uống nữa thì cũng chẳng có lý do gì để ngồi thêm, bằng cách như vậy dòng khách được lưu thông liên tục không lúc nào ngớt và đó cũng là cách để quán móc được tối đa số tiền trong túi của mỗi người khách khi đã bước chân vào quán. Cũng phải nói thêm là nhà vệ sinh của quán này rất sạch sẽ và có mùi hương như hương quế, ở đó luôn túc trực một người lau dọn, chờ cho mình sau khi rửa tay, lau tay vào chiếc khăn sạch sẽ thơm tho xong sẽ đem ngay chiếc khăn đó ra một chiếc giỏ để gom đồ giặt. Thêm vào đó, đồ ăn thức uống trong quán khá tốt cho nên tôi thực sự thấy ấn tượng với quán này, nghĩ bụng họ không ăn nên làm ra mới là lạ.

Sáng mùng một tết, tôi ăn sáng và uống cafe trong một quán cafe đẹp và thơ mộng ở Đà Lạt. Trời ơi, cứ như rơi tõm từ trên mặt đất xuống vũng nước vậy. Đồ ăn không ngon, phục vụ thờ ơ sao giống Hà Nội quá vậy, chỉ có nước trà là có chút mùi hương. Tuy là sáng mùng một nhưng cả quán có tới 7-8 người phục vụ trong khi khách cũng chỉ khoảng 3-4 bàn là cùng. Nước trà cạn tới đáy mà chẳng ai rót thêm, đồ ăn xong từ lâu chẳng có ai buồn dọn, mấy phục vụ hoặc ngồi buôn chuyện hoặc ngồi ngáp ruồi. Phố đó cafe san sát làm sao mà cạnh tranh nổi đây, nhưng có vẻ họ cũng chẳng muốn cạnh tranh vì quán nào cũng vậy hết. Cho nên mấy ngày ở Đà Lạt, một ngày tôi ngồi cafe 3-4 lần nhưng chưa quán nào tôi ngồi lại lần thứ hai. Có quán ngồi mãi tới 30 phút mới thấy phục vụ ló mặt tới, có một người đàn ông bước vào, ngồi ở bàn bên chờ đợi phục vụ lâu quá đứng dậy lững thững bước ra chẳng buồn ngó lại. Mà có phải quán đông gì cho cam, hay chiều Đà Lạt lãng đãng rơi khiến cho phục vụ cũng chậm rãi lờ đờ theo
?

Cứ trăn trở má»™t suy nghÄ© rằng Đà Lạt là má»™t trong số ít thành phố chuyên về du lịch trong cả nước mà sao đồ ăn đồ uống và phục vụ kém vậy. Chỉ thu hút bằng vẻ đẹp tá»± nhiên vá»›i muôn nghìn loài hoa thôi sao, người ta ngoài ngắm hoa ra thì còn phải ăn phải uống nữa cÆ¡ mà. Chuyện lá»›n như vậy sao không ai nói đến là sao? Tôi nghÄ© có khi mình lên đây mở má»™t trường chuyên nghiệp dạy về du lịch, nấu ăn và phục vụ khách sạn chắc sẽ đắt hàng lắm và cÅ©ng thuận lợi nữa vì đất Ä‘ai trống ở đây vẫn còn bao la bạt ngàn và chắc chắn sẽ thu hút được nhiều thanh thiếu niên ở các Ä‘á
»‹a phương lân cận tá»›i nhập học. Bởi vì chỉ cần Ä‘i dạo má»™t vòng qua các nhà nghỉ hay nhà hàng, quán cafe, chá»— nào tôi cÅ©ng thấy treo biển tuyển người, và trong mấy ngày lưu lại Đà Lạt, tôi cÅ©ng gặp vô số thanh thiếu niên nam nữ người dân tá»™c quanh đó đổ về đây chÆ¡i. Trong số họ chắc chắn có nhiều người muốn được làm việc ở thành phố nhưng không có cÆ¡ há»™i và vì không biết làm việc gì. Ai dạy cho mà học cÆ¡ chứ
? Nghĩ mà buồn lòng!

Ai bảo dân Đà Lạt nghèo và ai bảo dân Hà Nội không giàu? Nhìn những tòa biệt thự, những dòng xế hộp lũ lượt trên phố mọi người chắc cười tôi nhảm nhí vì lấy tiêu chí phục vụ để đánh giá mức độ giàu nghèo. Nhưng mà tin tôi đi, họ giàu nhưng chắc chắn không phải giàu từ công việc kinh doanh cafe đấy đâu.

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Không ai tắm hai lần trên một dòng sông

Mượn một câu triết lý nổi tiếng của Heraclit để làm tiêu đề entry này, may là thời ông ấy chưa có luật bản quyền nên không phải xin phép khi trích dẫn
. Câu nói ngụ ý rằng cuộc đời là một dòng chảy vô tận không có điểm dừng, luôn biến động không ngừng và ngày hôm qua khác hẳn ngày hôm nay và cũng khác ngày mai. Mỗi ngày đều là một ngày mới, không bao giờ lặp lại, và mỗi giây trôi qua, con người cũng như sự vật cũng biến đổi theo, không bao giờ là một người cũ hay sự vật cũ... Nói như vậy để thấy rằng chuyện gì đã xảy ra rồi sẽ không bao giờ làm lại được nữa, trừ khi con người phát hiện ra một chiều thời gian mới có thể quay ngược trở lại quá khứ, như cỗ máy thời gian của chú mèo máy Đôremon vậy, còn không thì nếu cốc nước đã đổ xuống thì không bao giờ có thể lấy lại được nữa.

Vậy thì, việc gì phải khóc than cho những gì đã qua, cho những lầm lỡ hay những thất bại? Những gì đã xảy ra thì cũng đã xảy ra rồi, chi bằng hãy ngồi lại và tìm cách tháo gỡ hoặc cứu vãn những gì có thể còn cứu vãn nổi. Chi bằng trước khi làm gì hãy nghĩ cho kỹ để rồi chuyện gì sẽ xảy ra cũng nên chấp nhận một cách vui vẻ. Điều quan trọng là ta đã dám nghĩ và dám làm, dám đương đầu và dám quên đi những thất bại. Và càng đáng quý hơn những người dám quên đi cả những thành công của bản thân mình để tiếp tục sống một ngày mới.

Khi xem phim "National Velvet", một bộ phim từ năm 1944, có Elizabeth Taylor đóng vai một cô bé mới 12 tuổi đam mê cưỡi ngựa và đã chiến thắng trong cuộc thi đua ngựa quốc tế, "Grand National Steeplechase", tôi nhớ nhất những lời mẹ cô bé nói với cô bé trước cuộc đua. Bà ấy nói đại ý rằng cái gì cũng có thời điểm của nó, việc học hành, những ước mơ lớn, công việc, lấy chồng, sinh con... và cả cái chết nữa. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với mỗi người là đều phải chuẩn bị tâm thế cho mỗi việc xảy ra, và khi việc đó xảy ra rồi thì dù kết quả có ra sao cũng không hối tiếc và không để nó ảnh hưởng đến một ngày mới, một công việc mới. Cho nên sau khi cô bé đã chiến thắng trong cuộc đua, một số nhà làm phim của Hollywood muốn mời cô và con ngựa đến Mỹ để làm phim nhưng cô đã từ chối. Bởi cô hiểu rằng việc đó đã qua rồi, dù đó là một thành công với rất nhiều tung hô và chúc mừng nhưng dù sao nó cũng đã qua và cuộc sống vẫn tiếp diễn, đây sẽ là thời điểm để cô bắt tay vào làm một việc mới.

Vậy đấy, cuộc đời luôn là một dòng chảy với việc này nối tiếp việc kia không bao giờ dứt. Nếu như chúng ta cứ mãi nuối tiếc hay quá hưng phấn vì một việc gì đó đã xảy ra thì sẽ chỉ lãng phí thời gian mà thôi. Thực ra thì ta không bao giờ thiếu thời gian cho bất cứ việc gì, chỉ có điều chúng ta sẽ sử dụng thời gian ấy như thế nào và bao nhiêu mà thôi. Vậy thì từ bây giờ trở đi, đừng bao giờ nói rằng tôi quá bận, tôi không đủ thời gian, tôi chết ngập trong đống công việc của mình... nữa, hãy từ từ giải quyết từng việc một, và khi nó hoàn thành rồi thì đừng nhìn lại nó nữa, hãy quên nó đi và bắt tay vào một việc mới. Và mỗi ngày sẽ là một ngày mới với hy vọng mới, thành công hay thất bại mới, niềm vui hay nỗi buồn mới... Cũng đừng sợ nỗi buồn hay thất bại bởi đó cũng chỉ là một phần tất yếu của cuộc sống mà thôi.