Thứ Năm, 29 tháng 4, 2010

Tớ vào chùa đây.



Chán đời quá rồi, tớ theo các thầy tu vào chùa đây
!

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Hè.

Cảm nhận được hè về từ những ngày nắng nóng đến rát da, từ những cơn mưa rào ban đêm và tự dưng thấy ngày dài hơn bình thường. Bây giờ đi ra đường đã thấy bằng lăng tím đua nhau nở và có hôm đã nghe tiếng ve râm ran bản hòa ca mùa hè. Ôi thời gian, trôi nhanh như một cái chớp mắt, mới hôm nào còn lạnh thấu xương cố quấn mãi trong chăn ấm hôm nay đã chỉ muốn tung tăng trong bộ cánh sát nách mát mẻ.

Đêm, lười biếng ngồi trên giường, laptop để trên đùi cố gắng dịch cho xong bản báo giá ( for boss, he he ) mà toàn bị phân tâm bởi những yếu tố bên ngoài. Tôi nghe thấy gì? Tiếng gió rít bên ngoài, luồn qua khe cửa làm chiếc chuông gió rung lanh canh liên hồi không lúc nào ngừng nghỉ. Hôm nay có hội làng, các phường quan họ, chầu văn được mời tới góp vui chắc sẽ hát hò suốt đêm. Theo gió, tiếng hát lúc xa lúc gần, lúc khoan lúc nhặt dìu dặt, dặt dìu đến là mời gọi. Được cái tôi cũng hơi âm lịch thích nghe quan họ, chầu văn, thích nghe hát lên đồng nên người ở đây mà hồn cứ như đang phiêu du theo tiếng hát vậy... Tôi ngửi thấy gì? Nhà hàng xóm có cây dâu da xoan đang mùa nở hoa trắng xóa, hương thơm ngan ngát giống hệt hương sen lan tỏa trong không gian. Tôi nhìn thấy gì? Một mảnh trăng lưỡi liềm sáng quắc trên nền trời trong. Hè đến rồi, muốn níu giữ xuân cũng không níu giữ nổi nữa. Mỗi ngày, cái nắng và hương mùa hè càng làm cho những ngày xuân xa tít mù khơi. Thôi, đành tạm biệt xuân và chào một mùa hè mới vậy.

Thứ Sáu, 16 tháng 4, 2010

Điều mình tự nghĩ về mình quan trọng hơn điều người khác nghĩ về mình.

Ngày trước, tôi có yêu một người. Chà, một mở đầu có vẻ hay ho, chắc các bạn tưởng rằng tôi đang chuẩn bị kể về chuyện tình lãng mạn nào đó của mình. Không hẳn thế, đó là một chuyện tình mà không lãng mạn và tôi cũng chẳng có ý định kể về nó nữa. Tôi chỉ nhớ rằng dù đã yêu tôi nhưng người đó luôn lấy người yêu cũ của mình ra làm hình mẫu cho tôi. Hàng bao nhiêu ngày và bao nhiêu tháng, tôi được nghe rằng chị ấy là người tuyệt vời như thế nào, chị ấy nữ tính và chu đáo ra sao... Còn trong mắt người đó, tôi là một đứa nông nổi, vụng về, ăn nói thiếu lễ độ, thiếu nhạy cảm, không lãng mạn, không biết chăm sóc người khác một cách tinh tế...
Nói tóm lại là tôi phải cố gắng rất nhiều nếu muốn trở thành một người phụ nữ hoàn hảo trong mắt người yêu mình
. Và tôi đã làm gì? Các bạn có tin được không, một đứa con gái cá tính mạnh mẽ như tôi lại bị người đó bắt vía đến nỗi tôi đã muốn làm mọi thứ chỉ để mong người đó hài lòng. Tôi cố gắng đến nỗi thay đổi cả bản thân mình, tôi chăm chỉ hơn, nhu mì hơn, đi nhẹ nói khẽ cười duyên, cố gắng nắm bắt từng trạng thái cảm xúc của người đó... Nhưng rồi sao, cuối cùng người đó vẫn bỏ tôi để quay lại với người bạn gái cũ của mình. Đơn giản bởi vì người đó chỉ yêu người con gái kia mà không hề yêu tôi và dù cho tôi có cố hoàn thiện đến mức nào tôi cũng không làm lay động nổi trái tim người không bao giờ thuộc về tôi. Tôi đã buồn, đã khóc và cũng thầm cảm ơn người đó vì đã rời xa tôi để tôi trở về với cái tôi của chính mình, để tôi không phải đánh mất bản sắc của mình chỉ để làm vui lòng ai đó.

Tôi rất thích câu tựa đề trong cuốn " Canh bạc", cuốn sách thứ hai của người tù bỏ trốn Papilon nổi tiếng một thời: " Điều mình tự nghĩ về mình quan trọng hơn điều người khác nghĩ về mình". Bạn ơi, tôi thấm thía lắm, đừng bao giờ để bất kỳ ai hay bất kỳ cái gì điều khiển cuộc sống, suy nghĩ, cảm xúc của bạn. Bạn không tin ư? Thế bạn đã bao giờ buồn vì một lời nói khó nghe của một ai đó, thế bạn đã bao giờ ấm ức vì một lời chê bai thiếu tế nhị, bạn đã bao giờ cảm thấy bị tổn thương vì lời nói thiếu tôn trọng hay thô lỗ của một kẻ có thói ghen tị xấu tính nào đó chưa? Nếu bạn nói là chưa thì chắc hẳn cuộc sống của bạn quá phẳng lặng không có gì nổi bật đến nỗi chẳng ai buồn bình phẩm gì về bạn. Còn nếu có rồi thì đó là chuyện rất bình thường trong xã hội đầy rẫy những cạnh tranh, ganh ghét và thị phi này. Trong lịch sử đã có biết bao nhiêu người tài giỏi chết vì miệng lưỡi cay độc của thế gian. Nhưng cũng có biết bao nhiêu người vượt lên dư luận để chứng minh rằng mình đúng và chói sáng như một thiên tài... Ồ, đó lại là một câu chuyện khác rồi vì hầu hết chúng ta ở đây chỉ là người bình thường và ai cũng đã từng buồn phiền vì những lời chỉ trích của ai đó. Tôi không nói các bạn phải cho mình là đúng trong mọi trường hợp và gạt phắt những nhận xét của người khác mà không phân biệt đâu là lời góp ý thiện chí và đâu là lời ganh ghét. Tuy nhiên, biết phân biệt đúng sai đã là tự biết giá trị của bản thân mình rồi. Và người tự biết giá trị của bản thân thì khó có thể bị tác động bởi những lời đàm tiếu bên ngoài.

Tôi có một cô bạn thân, hồi năm thứ ba đại học cô ấy mắc bệnh rất nặng. Bác sĩ nói cô ấy có nguy cơ liệt nửa người rất cao. Gia đình tuyệt vọng, các bác sĩ ái ngại. Nhưng cô ấy thì không, cô ấy nói hết bao nhiêu tiền cũng cố gắng chữa cho đến cùng. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, cô ấy nói mẹ đi vay lãi để chữa bệnh và cuối cùng cô ấy đã không những khỏi bệnh mà còn hồi phục rất nhanh. Các bác sĩ còn phải nói rằng cô ấy có một nghị lực sống tuyệt vời nếu như không muốn nói là phi thường. Bạn đã từng ốm yếu, đau đớn và mệt mỏi tới mức chỉ muốn xuôi tay nhắm mắt bao giờ chưa? Nếu chưa thì bạn quả là rất may mắn còn nếu rồi bạn sẽ hiểu nghị lực sống và lòng tự tin quan trọng đến mức nào đối với mạng sống của chính mình. Tin rằng mình làm được thì sẽ làm được.

Bạn ơi, cuộc sống của bạn chỉ thuộc về mình bạn và chỉ nằm trong tay bạn thôi, đừng để cho người khác dù người đó là ai, là bố mẹ hay chồng/vợ của bạn nắm giữ hay điều khiển nó. Thực sự thì những người có tác động nhiều nhất đến ta thường lại là những người thân cận của ta nhất, nhiều người tự cho họ cái quyền quyết định cuộc sống của người khác và tự cho mình là đúng mà không để ý đến cảm xúc hay suy nghĩ của người khác. Cho nên điều cần thiết là hãy lắng nghe suy nghĩ, ước muốn, khát vọng... của bản thân mình trước khi tham khảo ý kiến của người khác và chọn cho mình quyết định đúng đắn nhất. Và khi đã quyết định rồi thì phải tự tin vào chính trực giác của mình, không bao giờ nên hối hận vì những gì mình đã lựa chọn. Niềm vui của sự tự chủ là một niềm vui khó có niềm vui nào sánh bằng...

Tôi thường quan niệm rằng sống trong đời như một cuộc rong chơi lớn, trong đó có buồn vui, đau đớn, hạnh phúc, lo lắng, sợ hãi, vinh quang... đi kèm. Nhưng cuộc rong chơi nếu có nhiều niềm vui và hạnh phúc thì vẫn đáng sống hơn, phải không?

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2010

Thăm Ayuthaya, cố đô Thái Lan.

Nếu như bạn là một
người thích tìm hiểu những nền văn hoá và kiến trúc cổ xưa, khi đến Thái Lan
bạn không thể không đến thăm thành cổ Ayuthaya, nơi một thời đã từng là kinh đô
hoa lệ của đất nước này.

Nằm cách thủ đô Bankok
hơn 80km về phía Bắc, Ayuthaya được bao quanh bởi ba con sông Chao Phraya,
Lopuri và Pesak. Là kinh đô của Thái Lan trong suốt 4 thế kỷ ( bắt đầu từ năm
1350), trải qua 33 triều đại cho tới khi thành phố này bị Miến Điện phá huỷ vào
cuối thế kỷ thứ 18 ( năm 1767), Ayuthaya không chỉ nổi tiếng bởi những dải san
hô và vẻ đẹp thơ mộng mà còn bởi nơi đây từng là một trong những thành phố lớn
và thịnh vượng nhất ở châu Á lúc bấy giờ. Đế chế Ayuthaya  khi ở đỉnh cao đã từng là vương quốc hùng
mạnh nhất của vùng Đông Nam Á, từng thôn tính đế chế Angkor huy hoàng và không
ngán ngại các thế lực lân bang như Lạn Xạng (Lào), Chiêm Thành (Champa) hay
Gia-va (Indonesia), thậm chí dám thách thức cả cường quốc Trung Hoa. Đây cũng
là nơi quy tụ rất nhiều nền văn hoá tôn giáo khác nhau trên thế giới, đánh dấu
thời đại phát triển rực rỡ về nghệ thuật và kiến trúc ở Thái Lan với những tinh
hoa kiến trúc theo đạo Bà La Môn, đạo Phật của Cao Miên và Miến Điện.

Một góc Cung điện mùa hè.


Trong suốt thời gian
tồn tại hơn 400 năm của mình, Ayuthaya là một trong những nơi buôn bán nhộn
nhịp nhất trên thế giới, giới thương nhân từ khắp nơi như Hà Lan, Pháp, Anh, Bồ
Đào Nha, Trung Quốc, Nhật Bản… tấp nập đổ về đây làm ăn. Ở thời cực thịnh vào
thế kỷ 16-17, quy mô và sự giàu có của Ayuthaya đã từng được các sứ thần ngoại
quốc ví với kinh đô Paris tráng lệ của nước Pháp. Ngày nay, vẫn còn nhiều dấu
vết để lại của nền văn hoá các nước khác như 
“làng Bồ Đào Nha” với phế tích của 3 nhà thờ Thiên Chúa giáo San Paolo,
San Domino và San Pedro; hay “làng Nhật Bản”, được hình thành từ cuối thế kỷ
thứ 10 khi những doanh nhân xứ Phù Tang tới đây buôn bán, mở cửa hàng.


Chỉ mất hơn một giờ
đồng hồ đi ô tô từ Bankok, bạn đã đặt chân tới mảnh đất Ayuthaya rêu phong, cổ
kính. Khác xa với thủ đô Bankok đông đúc và lúc nào cũng trong tình trạng tắc
nghẽn giao thông, đường phố ở Ayuthaya rất rộng rãi và thưa vắng xe cộ. Nhịp
sống ở đây cũng rất chậm rãi và hiền hòa chứ không náo nhiệt như ở Bankok.


Điểm đến đầu tiên mà
du khách thường hướng tới là Công viên Lịch sử Ayuthaya, chiếm tới một nửa diện
tích của thành phố và cũng chính là khu di tích hoàng thành xưa. Từ năm 1981,
địa điểm này đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Mặc dù giờ
đây chỉ còn là các phế tích nhưng những kiến trúc còn sót lại từ 5-6 thế kỷ
trước cho đến nay vẫn còn làm bao du khách phải sững sờ kinh ngạc trước sự
hoành tráng của nó. Ngôi chùa Yai Chai Mongkhon có ngọn tháp cao tới 60m được
một trong những vị vua vĩ đại nhất của Thái Lan – vua Naresuan – cho xây dựng
vào năm 1592 đến nay vẫn còn đứng sừng sững, như một minh chứng cho thời kỳ
lịch sử huy hoàng của cố đô Ayuthaya. Ngôi chùa ấy cũng là nơi đã chứng kiến
biết bao sự kiện quan trọng trong lịch sử của vương quốc này, nhất là những
trận đánh ác liệt giữa quân Ayuthaya với quân Miến Điện.



Kiến trúc chùa tháp đặc trưng của Thái Lan.


Trải qua hơn 30 triều
đại các vua nên ở Ayuthaya các chùa chiền, đền miếu còn lại rất nhiều. Tuy
nhiên, hầu hết các đền thờ đều chỉ còn sót lại nền, vài bức tường bao quanh,
tượng phật ngồi khắp nơi tạo thành những vòng cung trong đền, những toà tháp
cao với bậc thang thẳng đứng với 4 cửa trổ từ 4 phía. Chùa Wat Maha That (chữ
Wat trong tiếng Thái có nghĩa là chùa hoặc đền), được xây dựng từ thế kỷ thứ
13, giờ đã hoang tàn với các tòa tháp đổ xô nghiêng, tường thành vụn vỡ. Hầu
hết các tượng làm bằng đá khối, được xếp chồng lên nhau, các tư thế thiền đẹp,
mềm mại và thanh thoát nhưng tất cả các bức tượng đều không còn nguyên vẹn, bức
thì bị mất đầu, bức thì mất nửa thân người, hoặc có bức tượng chỉ còn 3 mảnh đá
ghép lại với nhau…

Các phế tích còn sót lại.

Các bức tượng không còn nguyên vẹn hình hài.


Chùa  Wat Maha That còn nổi tiếng bởi bức tượng
chiếc đầu Phật nằm trong rễ cây. Truyền thuyết kể lại rằng trong cuộc chiến
tranh giữa Thái Lan và Miễn Điện, chiếc đầu Phật này đã rơi xuống gốc cây, thời
gian trôi qua, những chiếc rễ cây mọc ra ôm lấy bức tượng đầu Phật tạo nên một
bức tranh tuyệt đẹp. Gương mặt Phật đã trở thành một phần của gốc cây và dù
trải qua biết bao thăng trầm và thời gian, trên gương mặt ấy vẫn luôn giữ được
nét từ bi, siêu thoát với ánh nhìn nhân ái, độ lượng…

Bức tượng đầu Phật nằm trong gốc cây.


Đến Ayuthaya, du khách
không thể không chiêm ngưỡng bức tượng Phật nằm rất lớn, dài tới 37m, cao 8m có
tên là Phra Bhuddhasaiyart. Đầu Phật gối lên một bông sen còn gương mặt thanh
thản quay về hướng Đông. Toàn thân bức tượng được phủ một tấm vải màu vàng rực
rỡ dưới ánh nắng.

Bức tượng Phật nằm thanh thản giữa đất trời.


Cách bức tượng Phật không
xa, Wat Phrasi Sanphet nổi bật với những toà tháp rêu phong đồ sộ trên nền cỏ
xanh mượt. Đây là ngôi đền lớn nhất và cũng là kinh thành, được xây dựng vào
năm 1499  dưới thời vua Rama đệ nhất.
Những đời vua kế tiếp trùng tu và xây thêm những toà tháp xung quanh, đây cũng
là nhà nguyện của Hoàng gia vì vậy không có tăng sĩ sống bên trong. Nơi đây có
những ngôi tháp lớn được xây dựng để đựng tro của Vua Boromatrailokanat và hai
con trai và cũng là nơi hoả táng thi hài các thành viên gia đình hoàng gia. Ngôi
đền này có một tượng Phật cao 16 thước, toàn thân dát tới 250 kí lô vàng ròng,
đặt trong hoàng cung nơi hoàng gia thờ cúng nhưng năm 1767, hoàng cung bị chiếm
đóng, quân đội Miến Điện đã phá tượng, đốt vàng cho tan chảy để đem về nước.

Các phế tích còn sót lại.

Tòa tháp cổ kính này còn khá nguyên vẹn.


Nếu như còn thời gian, du khách cũng không nên bỏ qua
tiết mục xiếc voi trong công viên Ayuthaya. Những chú voi đã được thuần hoá rất
dễ mến và thân thiện sẽ khiến cho du khách nở những tràng cười sảng khoái và
tạm quên đi cái nắng nóng oi ả bên ngoài.

Một góc trong Cung điện mùa hè.

Rời công viên Lịch sử, du khách sẽ đến
thăm Bang Pa-in, một hòn đảo xinh đẹp và là Cung điện mùa hè. Cung điện này
được xây dựng từ thời vua Chulalongkorn vào năm 1876, là một khuôn viên rất
rộng lớn và được xây dựng trên việc tổng hợp nhiều nền văn hoá Đông – Tây khác
nhau. Bên cạnh những công trình mang đậm nét văn hoá Thái, chúng ta có thể bắt
gặp ở đây những công trình kiến trúc mang dáng dấp của Itali, của Cam pu chia,
của Trung Quốc và nhiều nền văn hoá khác trên thế giới. Tất cả hoà quyện với
nhau tạo thành một quần thể kiến trúc vừa lộng lẫy, tráng lệ mà vẫn giữ được
những nét nên thơ và thanh bình…


Đã gần 300 năm qua đi kể từ khi Ayuthaya
bị tàn phá, cố đô của Thái Lan ngày đó giờ chỉ còn là những đống phế tích đổ
nát. Đứng trước những bức tường thành rêu phong nhuốm màu thời gian, du khách
không khỏi chút ngậm ngùi tiếc nhớ về thời kỳ thịnh vượng của một đế chế oai
hùng khi xưa. Hưng thịnh và suy vong của một cường quốc, âu cũng là chu kỳ tất
yếu của bất cứ nền văn minh nào trong lịch sử loài người.


                                                                        Photos and written by Cafe Sua da, 15/07/2008.


Thứ Năm, 8 tháng 4, 2010

Con đường.


Thế gian làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi.

Thứ Ba, 6 tháng 4, 2010

Những em bé tôi gặp ở Đền Ngọc Sơn

Vào đền Ngọc Sơn một sáng chủ nhật, có nhiều trẻ con theo bố mẹ đến đây chơi đáng yêu quá. Chụp vài tấm đưa lên đây.



Tháp Rùa nhìn từ đền Ngọc Sơn.



Cậu bé này tôi gặp cạnh hồ Gươm, đang tạo dáng cho mẹ chụp ảnh.



Mắt tròn đen láy.



Tôi rất thích cô bé này, nghịch ngợm và hiếu động, chạy nhảy khắp nơi.



Mặc áo dài, đi guốc mộc mà mặt bướng bỉnh như con trai.



Đang dọa ma ai đây?



Trốn bố.



Cô bé này có gương mặt rất ngây thơ và đáng yêu.



Tôi rất thích nụ cười của em gái này, thân thiện và rất xinh, đôi mắt như biết cười.



Nụ cười... thiếu răng
.

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2010

Những người bạn đồng hành của tôi.

Trong những chuyến độc hành tới vùng đất lạ, bao giờ tôi cũng tìm được cho mình một hay một vài người bạn đồng hành. Đó có thể là đàn ông hay đàn bà, đó có thể là một người đàn ông phương Tây cô độc hay một cặp vợ chồng Việt Nam trung tuổi, đó có thể là một cô gái trẻ hay một thiếu phụ đã có gia đình... Quãng thời gian cùng đồng hành không dài, thường là một ngày hoặc có thể hai ba ngày. Chúng tôi là những người xa lạ vô tình gặp nhau ở cùng một hành trình. Chúng tôi cùng đi, cùng ăn, chia sẻ với nhau một vài thông tin về bản thân và một vài quan điểm, sở thích trong cuộc sống. Thường là những câu chuyện vui vẻ, có khi là những câu chuyện tâm sự nào đó. Chúng tôi giúp nhau chụp những tấm ảnh hoặc chụp ảnh của nhau. Rồi chia tay, không xin số điện thoại, địa chỉ, chia tay và không bao giờ gặp lại... Có cuộc chia tay vội vã thậm chí không kịp gửi một lời chào, có cuộc chia tay kịp nở với nhau những nụ cười thân thiện... Tôi vẫn lưu giữ một vài tấm ảnh của một vài người bạn đồng hành đó và thi thoảng lúc xem lại ảnh của mình tôi cũng xem lại hình ảnh của họ, thường thì tôi cũng quên cả tên của họ rồi. Đôi khi tôi tự hỏi họ giờ này đang ở đâu và đang làm gì, cuộc sống của họ thế nào??? Đôi khi tôi cảm thấy buồn khi xem lại ảnh của ai đó, tự nhiên, vì thực sự muốn biết hiện tại họ ra sao mà không cách nào có thể biết được... Biết đâu ở một góc nào đó trong thế giới rộng lớn này, họ cũng đang xem lại ảnh của tôi và tự hỏi tôi đang làm gì và ở đâu...

Chủ Nhật, 21 tháng 3, 2010

Địa đạo Củ Chi – chứng tích lịch sử oai hùng.

Nằm
cách thành phố Hồ Chí Minh gần 70km về hướng Tây Bắc có một địa danh rất nổi
tiếng đó là Địa đạo Củ Chi, một di tích lịch sử gắn liền với những chiến công
vang dội của quân và dân ta trong những năm chiến tranh khốc liệt. Được xây
dựng dưới những tán cây rừng, Địa đạo Củ Chi vừa là căn cứ địa vững chắc của
Khu uỷ Quân khu Bộ tư lệnh Sài Gòn – Gia Định, của Huyện uỷ và nhân dân Củ Chi,
vừa là thế trận đánh giặc có một không hai trên thế giới, rất độc đáo, linh
hoạt luôn biến hoá khôn lường đã góp phần không nhỏ vào công cuộc kháng chiến
chống giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Ngày nay, khu di tích này đã trở
thành một điểm tham quan du lịch hấp dẫn, lý thú và cũng là điểm đến quen thuộc
giúp cho bao thế hệ trẻ hiểu biết thêm về lịch sử đánh giặc oai hùng của cha
ông ta.

Mô hình địa đạo Củ Chi.

Xác xe tăng của địch.


Không
mang dáng vẻ kỳ vĩ và hoành tráng như các kỳ quan tầm cỡ thế giới nhưng khu di
tích Củ Chi cũng thật sự vĩ đại với một quần thể các công trình được thiết kế
công phu bao gồm địa đạo Bến Đình, địa đạo Bến Dược, vùng giải phóng, đền Bến
Dược, nhà văn bia… tái hiện và trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh về sinh hoạt
của quân và dân Củ Chi trước, trong và sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Một đoạn đường hầm.


Địa
đạo bến Đình và Địa đạo bến Dược là những công trình độc đáo với hệ thống đường
hầm được đào sâu trong lòng đất bao gồm nhiều tầng, nhiều ngõ ngách như những
mạng nhện chằng chịt có tổng chiều dài lên đến hàng trăm km. Trong hầm có đầy
đủ cả nơi ăn chốn ở, nơi hội họp, nơi chỉ huy chiến đấu… và cũng được chia
thành từng phòng chức năng như hầm tư lệnh trưởng, hầm y tế, phòng ăn, giếng
nước… Độc đáo nhất vẫn là bếp ăn Hoàng Cầm, được thiết kế rất khéo léo giúp cho
khói bếp được lọc qua nhiều lớp để đến khi thoát ra bên ngoài chỉ còn là một làn
khói bay là là mặt đất khiến cho máy bay địch từ trên cao không thể nào phát
hiện ra. Được tận mắt chứng kiến và tham quan những công trình trong lòng đất,
du khách sẽ không thể không cảm thấy cảm phục và tự hào trước sự thông minh,
sáng tạo và lòng dũng cảm, kiên cường của những người con nơi “ đất thép thành
đồng” Củ Chi. Đây cũng là biểu tượng của nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân.
Dựa vào hệ
thống đường ngầm, các công sự, chiến hào, chiến sĩ và đồng bào Củ Chi đã chiến
đấu vô cùng anh dũng, lập nên những chiến công thần kỳ, khiến cho giặc Mỹ vô cũng
khiếp nhược khi vấp phải trận địa giống như những “ ma trận” này. 

Hố chông

Bếp Hoàng Cầm

Lối đi trong rừng.


Ngoài
hệ thống các đường hầm còn có những công trình tái hiện vùng giải phóng Củ Chi.
Khu giải phóng được chia ra làm nhiều vùng như vùng giải phóng, vùng tranh
chấp, vùng trắng, vùng bị tạm chiếm (ấp chiến lược)… Tất cả đều thể hiện rất
sinh động quang cảnh làng quê Củ Chi trước chiến tranh với vườn cây trái xum
xuê, bốn mùa sai trĩu quả; cảnh sinh hoạt của người dân như cảnh phơi lúa, cảnh
vót chông, cảnh xay lúa giã gạo, cảnh trồng trọt, cảnh lớp học, cảnh họp chợ…
Bên cạnh đó là những hình ảnh tái hiện lại cảnh tượng của chiến tranh như cảnh
tàn phá của bom đạn Mỹ, mô hình ấp chiến lược mà Mỹ và tay sai áp dụng để kiểm
soát dân cư, cảnh trai gái đi tòng quân đánh giặc… Du khách cũng sẽ được tận
mắt nhìn thấy cảnh tái hiện rất sinh động những hố chông, những loại vũ khí
được quân và dân Củ Chi sáng tạo ra mặc dù vô cùng thô sơ nhưng cũng rất hiệu
quả. Hiện nay cũng còn lại rất nhiều chứng tích của chiến tranh ở nơi đây như
những hố bom B52, vỏ bom bi, xác máy bay trực thăng, xác xe tăng của Mỹ… khiến
cho người xem phần nào cảm nhận được sự khốc liệt của một thời khói lửa.

Hầm y tế.


Không chỉ tham quan khu di
tích, du khách cũng có thể tham gia tiêu khiển bắn súng ở khu vực bắn súng thể
thao và ghé chân nghỉ ngơi, thưởng thức những món ăn đặc sản của Củ Chi tại nhà
hàng Địa đạo Củ Chi được xây dựng giữa không gian thoáng mát, bên dòng sông Sài
Gòn thơ mộng.


Đến Củ Chi, du
khách đừng quên ghé thăm đền Bến Dược, ngắm nhìn cổng tam quan, nhà văn bia,
toà tháp 9 tầng và ngôi điện chính có đặt 632 tấm đá hoa cương khắc tên của
44.357 người con của tổ quốc Việt Nam đã chiến đấu và anh dũng hy sinh trên
chiến trường Sài Gòn – Chợ Lớn - Gia Định. Tầng hầm của ngôi đền còn là nơi
trưng bày hình ảnh, hiện vật, mô hình, sa bàn… thể hiện cuộc sống chiến đấu của
người dân Củ Chi. Với kiến trúc truyền thống rất đẹp, hài hòa với khung cảnh
thiên nhiên, đền Bến Dược là công trình độc đáo của khu di tích, được xây dựng lên từ
nguyện vọng tha thiết của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước, thể hiện đạo lý
“uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.

Một loại chông được dùng trong chiến tranh.

Những xác bom còn sót lại tới ngày nay.


Hàng chục năm trôi qua kể từ khi chiến tranh kết thúc, hôm nay người dân
Củ Chi đã được sống dưới một bầu trời hoà bình tự do, nhưng những di tích lịch
sử hùng tráng vẫn còn đó như nhắc nhở những thế hệ mai sau nhớ đến quá khứ oanh
liệt của một vùng đất, của những con người gan dạ, bền bỉ và kiên cường. Chính
vì lẽ đó mà tất cả những du khách đã từng đặt chân đến đây, dù là những chính
khách lớn trên thế giới hay chỉ là một người bình thường, cũng đều có chung một
niềm kính phục đối với mảnh đất và một dân tộc anh hùng.

Photos and written by Cafe Sua da.

Thứ Bảy, 20 tháng 3, 2010

Cây cỏ mùa xuân.



Cánh đồng bạt ngày bông lau trắng muốt ở khu ĐTM Việt Hưng.



Cỏ lau còn đây mà Đinh Bộ Lĩnh nơi đâu?



Con đường hoang vắng.



Hoa dại ven đường ( hoa bươm bướm dại và hoa xấu hổ ).



Cây cơm nguội bên cửa đền Ngọc Sơn cũng đang mùa ra hoa.



Cầu Thê Húc soi mình xuống dòng nước xanh ngắt mùa xuân.



Lộc vừng Hồ Gươm đây, cây này chưa nở rộ hoa lắm.



Buồn vương, buồn vương cây lộc vừng...